Cái tôi và mục tiêu: từ thành tích riêng tới kết quả chung
Điểm chính: Câu chuyện đội bóng của Ken và bảy nhóm kết quả giúp DecisionTech nhìn lại cái tôi, thước đo và trách nhiệm tập thể.
Cái tôi không tự biến mất khi đội nói nhiều về đoàn kết. Câu chuyện đội bóng của Ken giúp Kathryn chuyển cuộc trao đổi sang kết quả đủ rõ để mọi người cùng hướng tới. Phần chọn mục tiêu ngay sau đó cho thấy đội vẫn có thể chia thành công theo phòng ban nếu chưa cùng sở hữu những thước đo chung.
Mục lục và lộ trình chương
Cái tôi
Phần dưới tiếp nối câu chuyện lãnh đạo trong sách “5 điểm chết trong teamwork” của Patrick Lencioni. DecisionTech và các nhân vật là hư cấu, được dùng để minh họa mô hình làm việc nhóm.
Thước đo thành công nằm ở cả đội
Sau khi mọi người đã ngồi ổn định, Kathryn báo rằng cuộc thảo luận sẽ chuyển hướng. “Chúng ta sẽ đi thẳng đến điểm chết cuối cùng trong tinh thần làm việc nhóm, nhưng chúng ta sẽ nhắc lại chủ đề nỗi sợ bị tổn thương và sự cần thiết của niềm tin nhiều lần trong tháng tới. Nếu ai đó không trông đợi điều này thì tốt hơn hết nên chuẩn bị tinh thần làm quen với việc này.”
Mọi người đều nghĩ câu nói ấy nhắm đến Mikey. Họ chưa biết trong đội còn một người nữa đang vật lộn với cùng vấn đề, khó khăn chẳng kém gì cô.
Kathryn bước đến bảng để giới thiệu điểm chết cuối cùng. Bà ghi “Không quan tâm đến kết quả” ở tầng cao nhất của mô hình tam giác.
“Chúng ta đi đến phần trên cùng của sơ đồ để thảo luận về điểm chết cuối cùng: xu hướng tìm kiếm sự công nhận và chú ý cho cá nhân mình thay vì kết quả chung – mục tiêu chung của toàn đội.”
Nick đặt câu hỏi: “Đây là về cái tôi sao?”.
“À, cũng đúng một phần.” Kathryn xác nhận. “Nhưng ý tôi không phải là không có chỗ cho cái tôi trong một đội nhóm. Điều quan trọng là phải làm cho cái tôi của tập thể lớn hơn cái tôi của từng cá nhân riêng lẻ.”
“Tôi không hiểu điều này liên quan gì tới kết quả”, Jeff hỏi lại.
“Khi ai cũng tập trung vào kết quả chung và dùng điều này để xác định thành công, thì cái tôi của mỗi cá nhân rất khó bị mất kiểm soát. Cho dù một cá nhân trong đội cảm thấy hài lòng với tình trạng của bản thân đến mức nào đi nữa, nếu đội nhóm thất bại thì tất cả đều thất bại”, Kathryn làm rõ.
Câu chuyện đội bóng của Ken
Thấy một số thành viên vẫn chưa hiểu, Kathryn chọn một cách giải thích khác. “Hôm qua tôi có nói chồng tôi là một huấn luyện viên bóng rổ ở trường trung học St. Jude ở San Mateo.”
“Anh ấy đúng là một huấn luyện viên cừ khôi”, Nick góp lời. “Anh ấy đã nhận được nhiều lời mời làm việc của nhiều trường đại học từ lúc tôi còn học trung học, và năm nào anh ấy cũng phải từ chối các lời mời. Anh ấy là một huấn luyện viên huyền thoại.”
Kathryn vui trước lời khen của Nick và cảm thấy tự hào về chồng. “Đúng vậy, tôi cho rằng anh ấy rất ưu tú và chắc chắn rất giỏi trong công việc của mình. Mặc dù vậy, tất cả những gì anh ấy làm là hướng đến đội nhóm. Và dù các đội bóng mà anh ấy huấn luyện đều rất giỏi, nhưng có rất ít học viên của anh chơi cho đội ở các trường đại học lớn, bởi vì nói thẳng ra là các em ấy không phải quá tài năng. Các em thắng vì các em chơi bóng rổ đồng đội, và điều đó thường giúp các em thắng các đội bóng lớn hơn, nhanh hơn và tài năng hơn mình.”
Nick gật đầu xác nhận. Chính anh từng thi đấu trong đội bóng thua St. Jude nhiều lần.
“Đôi lúc Ken, tên của chồng tôi, cũng đưa vào đội một cầu thủ không mấy quan tâm đến kết quả, hay nói đúng hơn là kết quả chung của cả đội. Tôi còn nhớ có một cậu bé vài năm trước chỉ quan tâm đến thành tích và sự công nhận cá nhân, ví dụ như danh hiệu cầu thủ vàng toàn giải hoặc được chụp hình đăng báo chẳng hạn. Nếu cả đội có thua thì cậu bé vẫn vui, miễn là cậu có ghi bàn. Và ngay khi cả đội chiến thắng, cậu ta vẫn buồn bực vì chưa ghi đủ điểm.”
Jan muốn biết thêm: “Vậy chồng chị đã làm gì trong trường hợp đó?”
Mỉm cười, Kathryn hào hứng kể tiếp câu chuyện về Ken. “Điều này khá thú vị. Cậu bé đó chắc chắn là một trong những cầu thủ xuất sắc của đội, nhưng Ken đã cho cậu đá dự bị. Đội bóng chơi tốt hơn khi không có cậu, và cuối cùng cậu đã bỏ đội.”
“Nghiêm khắc quá”, JR nhận xét.
“Đúng, nhưng năm sau đó, cậu bé đó trở lại với một thái độ hoàn toàn khác, rồi tiếp tục chơi cho đội bóng rổ trường Đại học Saint Mary sau khi tốt nghiệp. Giờ đây cậu bé đó có thể cho bạn biết năm đó là một năm quan trọng nhất trong cuộc đời mình.”
Jan tiếp tục hỏi: “Chị có nghĩ những người như vậy có thể thay đổi không?”.
Kathryn trả lời ngay, không chút do dự. “Không. Cứ mười đứa trẻ như vậy thì chỉ có một đứa có thể thay đổi.” Câu trả lời dứt khoát làm cả nhóm chững lại. Lúc ấy, nhiều hơn một người đang liên tưởng đến Mikey. “Và cho dù có vẻ nghiêm khắc nhưng Ken luôn khẳng định vai trò của anh là tạo ra đội bóng rổ giỏi nhất có thể, chứ không phải để dẫn dắt riêng một cầu thủ nào. Và tôi cũng nhìn nhận công việc của mình như thế.”
Điều gì làm thể thao trở thành hình mẫu của teamwork?
Jeff quay sang hỏi tất cả mọi người: “Có ai trong chúng ta chơi các môn thể thao đồng đội trong trường trung học hay đại học không?”
Ban đầu Kathryn muốn chặn cuộc thăm dò của Jeff để giữ đúng hướng đã dự định. Rồi bà nghĩ lại: một cuộc trao đổi ngắn, tự nhiên như vậy có thể hữu ích hơn bất cứ điều gì khác, miễn là vẫn xoay quanh chuyện làm việc nhóm.
Jeff lần lượt hỏi quanh phòng, để ai cũng có cơ hội trả lời.
Nick kể mình từng chơi bóng chày thời đại học. Carlos thì từng đảm nhiệm vị trí hậu vệ trong đội bóng bầu dục ở trường trung học.
Martin nói với vẻ tự hào: “Tôi từng chơi bóng đá, loại truyền thống và nguyên bản ấy.” Câu trả lời của người đồng nghiệp gốc châu Âu khiến cả nhóm cười khúc khích.
Mikey kể rằng cô từng chạy điền kinh khi học trung học.
Nick vừa hỏi, “Nhưng đó là môn thể thao cá nhân...”, thì Mikey khéo léo ngắt lời ngay: “Tôi tham gia đội điền kinh tiếp sức”.
Kathryn nhắc mọi người rằng trước đây bà là vận động viên bóng chuyền.
Jan từng tham gia cả đội cổ động lẫn đội khiêu vũ ở trường. Cô đùa: “Và nếu ai nói rằng những môn này không phải là môn thể thao đồng đội, tôi sẽ cắt ngân sách của phòng đó một nửa.”
Cả phòng bật cười lớn.
Jeff thú nhận mình không có năng khiếu chơi thể thao. “Tôi không hiểu sao mọi người cứ nghĩ rằng phải chơi thể thao thì mới học được tinh thần làm việc đội nhóm. Tôi không chơi thể thao nhiều, ngay cả khi còn bé. Nhưng tôi tham gia ban nhạc của trường trung học và đại học, và tôi nghĩ mình đã hiểu về hoạt động đội nhóm từ đó.”
Kathryn nhận thấy đã đến lúc đưa cuộc trao đổi trở lại hướng bà muốn dẫn dắt. “À, đó là một ý rất hay. Trước hết, chúng ta có thể học cách làm việc nhóm từ nhiều hoạt động khác nhau, miễn sao đó là hoạt động mà một nhóm người cùng làm với nhau. Nhưng có lý do khiến hoạt động thể thao lại là tiêu biểu khi nói về đội nhóm.” Bỗng Kathryn trở lại tâm thế của người từng dạy lớp 7: bà muốn những người đang ngồi trước mặt có cơ hội tự tìm ra đáp án cho câu hỏi tiếp theo. “Có ai biết lý do đó là gì không?”
Như nhiều tình huống bà từng gặp trong lớp học, cả nhóm dường như chưa biết trả lời ra sao. Kathryn hiểu chỉ cần kiên nhẫn chờ thêm một chút, rồi sẽ có người lên tiếng. Lần này là Martin.
“Bàn thắng.” Martin vẫn ngắn gọn như thường lệ.
“Hãy giải thích thêm nào.” Kathryn gợi mở, giống như khi bà hướng dẫn học sinh.
“À, hầu hết các môn thể thao đều có điểm số rõ ràng cuối trận đấu để xác định đội thắng, đội thua. Không có sự mập mờ, hay nói cách khác là sẽ không có chỗ cho...” Anh dừng một nhịp để chọn cho đúng từ. “… không có chỗ cho sự thành công mang tính chủ quan, suy diễn hay vị kỷ. Hy vọng mọi người hiểu ý tôi.”
Những cái gật đầu quanh bàn cho thấy mọi người đã hiểu.
“Khoan đã”, JR xen vào. “Ý anh là các vận động viên không có cái tôi hả?”
Thấy Martin lúng túng, Kathryn tiếp lời giúp anh. “Các vận động viên thường có cái tôi rất lớn. Nhưng cái tôi của các vận động viên xuất sắc thường gắn liền với một kết quả rõ ràng là chiến thắng. Họ chỉ muốn chiến thắng. Họ muốn điều này hơn cả việc được tham gia đội tuyển quốc gia, hơn cả việc hình ảnh bản thân được xuất hiện trên các chiến dịch truyền thông lớn, và đúng vậy, hơn cả việc kiếm tiền nữa.”
“Tôi không nghĩ là còn có nhiều đội nhóm như vậy tồn tại, ít nhất là trong lĩnh vực thể thao chuyên nghiệp”, Nick nêu ý kiến.
Kathryn mỉm cười đáp lại. “Và đó chính là điểm đáng giá. Những đội hiểu được điều này sẽ có lợi thế lớn hơn bao giờ hết, vì đa số đối thủ của họ chỉ là một tập hợp các cá nhân riêng lẻ chăm chăm hướng đến lợi ích bản thân.”
Mikey để lộ vẻ chán nản. “Điều này thì liên quan gì đến một công ty phần mềm?”
Đưa kết quả chung về công việc hằng ngày
Một lần nữa, câu hỏi của Mikey làm cuộc trao đổi mất nhịp. Kathryn vẫn cố tìm cách khích lệ cô, dù trong lòng bà đã bắt đầu hoài nghi liệu Mikey có thể thay đổi hay không. “Lại một câu hỏi hay. Điều này vô cùng liên quan đến chúng ta. Các anh chị thấy đấy, chúng ta sẽ làm cho những kết quả chung của cả đội quan trọng hệt như bàn thắng trong một trận bóng rổ vậy. Chúng ta sẽ không để cho sự suy đoán mơ hồ xuất hiện khi nói về thành công, vì điều đó chỉ tạo cơ hội cho cái tôi của cá nhân chen chân vào mà thôi.”
“Không phải chúng ta đã có bảng thành tích đó sao?”, Mikey nói chắc chắn.
“Cô đang nói về lợi nhuận à?”, Kathryn hỏi lại.
Mikey gật đầu; nét mặt cô như đang hỏi: “Còn gì khác vào đây nữa?”.
Kathryn vẫn kiên nhẫn làm rõ: “Chắc chắn lợi nhuận là một phần quan trọng trong thành công của chúng ta. Nhưng tôi đang nói về các kết quả ngắn hạn hơn. Nếu chúng ta lấy lợi nhuận làm kim chỉ nam duy nhất để hướng ta đến kết quả, chúng ta sẽ không biết được tình hình hoạt động của cả nhóm cho đến khi cuộc chơi sắp kết thúc.”
“Giờ thì tôi hơi rối rồi”, Carlos thừa nhận sự bối rối của mình. “Chẳng phải lợi nhuận là điểm số quan trọng nhất sao?”
Kathryn mỉm cười trước câu hỏi ấy. “Đúng vậy, tôi hơi nghiêng về lý thuyết ở điểm này rồi. Để tôi nói đơn giản hơn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho những kết quả mà ta cần đạt được trở nên thật rõ ràng đối với mọi người trong căn phòng này, để không có bất kỳ thành viên nào nghĩ đến chuyện làm điều gì đó chỉ với mục đích đánh bóng vị thế cá nhân hay nâng cao cái tôi của bản thân. Bởi vì điều đó sẽ khiến ta mất khả năng đạt được mục tiêu tập thể. Và thế thì tất cả chúng ta đều thua cuộc.”
Nhận ra cả nhóm đang dần hiểu, Kathryn giải thích thêm: “Dĩ nhiên, điều cốt yếu là chúng ta cần xác định rõ các mục tiêu, kết quả mà mình mong muốn theo cách vừa đơn giản để dễ hiểu, vừa cụ thể để có thể bắt tay vào thực hiện. Mục tiêu lợi nhuận không có đủ các yếu tố để chúng ta có thể hành động. Mục tiêu cần phải có mối liên hệ mật thiết hơn với những việc chúng ta làm hàng ngày. Và theo tinh thần đó, hãy xem chúng ta có thể đưa ra các mục tiêu như thế ngay bây giờ hay không nhé.”
Mục tiêu
Phần dưới tiếp nối câu chuyện lãnh đạo trong sách “5 điểm chết trong teamwork” của Patrick Lencioni. DecisionTech và các nhân vật là hư cấu, được dùng để minh họa mô hình làm việc nhóm.
Bảy nhóm kết quả cần cùng theo dõi
Kathryn chia đội thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm hai hoặc ba người. Bà yêu cầu họ lập danh sách những loại kết quả nên có trên bảng đánh giá thành tích chung. “Khoan xác định số lượng hay chỉ tiêu gì cả; hãy chỉ tạo ra các nhóm kết quả trước.”
Sau một giờ, họ đã đề xuất hơn mười lăm loại kết quả. Khi gộp các mục tương đồng và loại bớt một số mục, danh sách còn bảy nội dung: doanh thu, chi phí, khách hàng mới, mức hài lòng của khách hàng hiện có, giữ chân nhân tài, độ nhận biết trên thị trường và chất lượng sản phẩm. Cả đội nhất trí đánh giá mỗi tháng. Nếu đợi hết một quý, họ sẽ không có đủ cơ hội phát hiện vấn đề và điều chỉnh công việc kịp lúc.
Đáng tiếc, vừa chuyển sang chuyện kinh doanh, bầu không khí dễ chịu liền biến mất. Những lời chỉ trích quen thuộc lại chiếm chỗ.
Martin là người mở đầu: “Tôi xin lỗi, nhưng chẳng có điều gì mới mẻ cả, Kathryn. Đây là những thước đo mà chúng tôi đã dùng suốt chín tháng qua.”
Trước mắt mọi người, uy tín của Kathryn dường như đang bị tổn hại.
JR đẩy sự phản đối đi xa hơn: “Đúng vậy, và không có mục tiêu nào trong số đó giúp chúng ta tăng doanh số cả. Nói thật, tôi không chắc mấy thứ này có quan trọng không nếu chúng ta không chốt được vài đơn hàng, và trong thời gian nhanh nhất có thể.”
Khi thước đo chung vẫn bị chia theo phòng ban
Kathryn thấy những gì diễn ra đúng như mình dự đoán, và điều đó khiến bà có phần thú vị. Chỉ cần tình trạng kinh doanh khó khăn được nhắc đến, mọi người lại quay về chính kiểu ứng xử đã góp phần đưa họ vào tình thế ấy. Bà đã chuẩn bị để đối diện với phản ứng này.
“Được thôi, Martin. Anh có thể cho tôi biết chúng ta đã đặt mục tiêu như thế nào cho mức độ nhận biết thị trường trong quý vừa qua không?”
Mikey sửa cách gọi của Kathryn. “Chúng ta gọi đó là hoạt động PR - quan hệ công chúng.”
“À, ok.” Kathryn đáp rồi lại hướng câu hỏi về Martin. “Anh có thể cho tôi biết chính xác mục tiêu của chúng ta trong mảng quan hệ công chúng là gì không?”
“Không. Nhưng tôi chắc là Mikey có thể chia sẻ được. Tuy nhiên, tôi có thể cho chị biết các cột mốc phát triển sản phẩm mới của chúng ta là vào ngày nào.”
“Vậy thì anh chỉ cần cho tôi biết tình hình hoạt động quan hệ công chúng của chúng ta vừa qua ra sao thôi, được không?” Kathryn đặt câu hỏi trở lại cho Martin. Bà muốn nói rõ rằng chính anh cũng cần nắm được câu trả lời.
Martin lộ vẻ lúng túng. “Trời ạ, tôi không biết. Tôi mặc định là Jeff và Mikey sẽ trình bày vấn đề này chứ. Nhưng dựa vào doanh số đạt được thì tôi cho là chúng ta đã làm không tốt lắm việc này.”
Mikey giữ vẻ bình thản; bởi vậy, lời cô nói tiếp càng trở nên khó chịu. “Nghe này, tuần nào tôi cũng trình bày số liệu PR của mình trong các cuộc họp, nhưng không ai màng đến việc hỏi tôi một tí gì. Và thêm nữa, tôi không thể đưa tin bài gì được nếu chúng ta không bán được gì.”
Dù JR có lẽ bị chạm đến nhiều nhất bởi câu trả lời ấy, Martin mới là người phản ứng, bằng giọng đầy châm biếm. “Buồn cười thật. Tôi cứ tưởng mục đích của marketing là để tăng doanh số chứ. Tôi đoán là mình đã hiểu ngược vấn đề rồi.”
Mikey tiếp tục bảo vệ mình, như thể vừa không nghe lời Martin. “Tôi có thể khẳng định là những vấn đề chúng ta đang gặp phải không phải do marketing. Thực tế, tôi nghĩ phòng của tôi đã làm cực tốt, với tất cả những vấn đề mà chúng tôi gặp phải.”
Carlos muốn nói rằng phòng marketing không thể tự nhận làm tốt khi cả công ty đang đi xuống. Công ty sa sút thì tất cả cũng sa sút, và chẳng lý do nào có thể biện minh cho thành tích riêng của một phòng ban trong hoàn cảnh ấy. Nhưng anh sợ dồn Mikey vào thế bí sẽ khiến cô phản ứng dữ dội hơn, nên cuối cùng không nói gì.
Kathryn cũng bực bội như mọi người. Bà nghĩ một cuộc tranh luận quyết liệt, cần thiết sắp nổ ra. Thế nhưng cuộc trao đổi lại cứ thế dừng lại rồi tắt hẳn.
Kathryn thầm nhận ra: hóa ra đó là cách đội này làm việc.
Rút ra và áp dụng
- Chọn ít thước đo kết quả chung và hỏi mỗi phòng ban sẽ thay đổi ưu tiên nào để phục vụ chúng.
- Trong cuộc họp, yêu cầu mọi người giải thích ảnh hưởng của công việc mình đối với kết quả toàn đội.
Tự kiểm tra hiểu bài
Chọn câu trả lời phù hợp với lập luận của chương, rồi đọc giải thích. Nếu còn phân vân, quay lại nội dung để tìm căn cứ.
Ghi chú và một hành động cụ thể
Câu hỏi để viết lại bằng lời của mình
- Ai có thể được khen trong khi kết quả cả đội đang giảm?
- Các thành viên hiểu được chỉ tiêu nào ngoài phòng ban của mình?
- Kỳ rà soát gần nhất đã tạo ra hành động hỗ trợ liên phòng nào?
Ghi chú và tiến độ lưu trên trình duyệt này; không gửi lên máy chủ.
Xem minh họa các phần trong chương
Đánh dấu để theo dõi lộ trình của bạn.









Bình luận
Viết bình luận